Quoc Bao

“tự tôi phán xét mình vẫn hơn!”

Bài phỏng vấn của Chu Minh Vũ, 2002.

Cuộc trò chuyện của chúng tôi bao giờ cũng diễn ra vào đúng lúc 8 giờ sáng tại một quán cà phê kiểu Pháp trước cửa Nhà hát lớn Thành phố. Tôi nói với Bảo “Nhạc anh mà làm hẳn một đêm tại Nhà hát lớn thì hay nhỉ?” Bảo nói: “Để tưởng niệm à?” Tôi đành cười. Song tôi biết, nhạc của Bảo bây giờ đang được nhìn nhận là nhạc sang – dù cho, loại nhạc sang ấy cũng chia phần cho đủ cả, từ ngôi sao, cho đến ca sĩ trẻ mới ra ràng. Ai dám đồng hành với anh đây, hay mới là những người thực tài và chịu khó như hai “gà ruột” Hà Trần và Mỹ Tâm? Chỉ biết Hồng Nhung, Thanh Lam, 3A, Cẩm Vân, Thu Phương, Áo Trắng, TikTikTak, Con Gái… đã từng “được nhiều” từ những sản phẩm chung với Bảo. Còn bây giờ trong tay anh nhiều lắm, những người muốn có một cái gì tử tế trong làng nhạc, và trước tiên là những album đứng đắn và đẹp đẽ: Ngô Thanh Vân, Đoan Trang, nhóm AC&M…

• Anh chia cái cảm giác sang trọng cho hết thảy mọi người?
Tôi rất bất ngờ khi đêm hát của các người đẹp ở một phòng trà gần như biến thành đêm ca khúc Quốc Bảo! Tôi tự hỏi, chẳng lẽ nhạc mình thành một thứ sản phẩm “sành điệu” như xe A còng??? Nói cho vui thôi, thực tình, với những người hát thật tâm với nghề và không nóng vội, tôi luôn mong muốn được giúp các bạn ấy hiểu ra thế nào là Hát Đẹp. Họ thành công đến đâu, chưa xác quyết được, song chắc chắn họ không phải ân hận về đoạn đường mình vừa qua.

• Cách đây chừng năm năm, anh xuất hiện một cách bất ngờ và rầm rộ? Như vậy, trước đấy anh làm gì, ở đâu khi các đồng nghiệp cùng trang lứa như Quốc Trung hay Vũ Quang Trung, Lương Minh đã có danh rồi? Nếu như tôi không nhầm thì mình đã nghe “Em về tinh khôi” Khánh Du hát từ lâu, trước khi Hà Trần nổi tiếng với nó. Rồi “Trường xưa tìm lại” tôi còn nghe Trầm Tú hát từ lâu hơn nữa kia và tôi rất thích bài hát này?
Khoảng năm 1989, tôi viết “Trường xưa tìm lại” để tặng các sinh viên khóa sau tôi vừa tốt nghiệp. Cũng trong thời gian này, tôi kết thân với các nhà thơ, nhà báo Sài Gòn và tìm đọc rất nhiều thơ Bùi Giáng, Phạm Thiên Thư, Du Tử Lê, Apollinaire, Verlaine, đọc sách Thiền, đọc Triết Tây phương và tập tành viết truyện ngắn, làm thơ.
Năm 1990, tôi về cộng tác với nhạc sĩ Phạm Trọng Cầu (nay đã mất) trong công việc đệm guitar gỗ cho nhóm Dây leo xanh của anh, học hỏi công việc phòng thu. Năm ấy, tôi viết “Cỏ Hoa Mười Chín” và năm sau là một loạt những “Tình Trầm”, “Em Về Tinh Khôi”, “Cõi Hồng”… Bài “Trường Xưa Tìm Lại” và “Cõi Hồng” về sau đã được anh Lã Văn Cường lấy đưa vào một hợp tuyển gì đấy tôi không nhớ, do Khắc Dũng hay Trầm Tú hát, đại khái vậy. Những bài hát khác thì bị các vị đàn anh chê là “giai điệu thì cầu kỳ mà lời ca thì cũ kỹ”. “Em Về Tinh Khôi” bị chê nhiều nhất.
Tôi có khoảng hai năm làm công việc thiết kế bìa sách cho Nhà xuất bản Hội nhà văn chi nhánh phía Nam, và được vinh dự trình bày tập thơ của thi sĩ tôi yêu thích: Mưa nguồn của Bùi Giáng.
Rõ ràng không phải tôi là kẻ chân ướt chân ráo bước vào nghề nhạc mà là dân nhạc đã bỏ đi rong để rồi cuối cùng quay lại.
Tôi viết báo từ năm 1993, thoạt đầu cho các tờ Văn Hóa, Mỹ Thuật, sau đó là Tuổi Trẻ, Người Lao Động, Phụ Nữ, Tiền Phong. Tôi dùng công việc viết báo để ép mình vào thói quen của nhà khảo cứu, nói gì viết gì cũng phải tìm hiểu ngọn ngành và lý luận xác đáng. Khi đã có vị trí khá chắc chắn trong nghề báo, tôi lại bỏ ngang để quay về chuyện nhạc, cũng chỉ là một lời gọi của cơ duyên. Tôi biên tập chương trình đầu tiên vào khoảng cuối năm 1997, hợp tuyển Mùa Tình Yêu – trong đó có bài “Em Về Tinh Khôi” mà Khánh Du hát. Môi hồng đào là chương trình kế tiếp, ở đó tôi giới thiệu Trần Thu Hà lần đầu với một diện mạo chính thức. Và sau đó, tài năng có thật của Hà đã giúp cô thành danh.

• Hóa ra cũng là một chuyện hay khi một bài hát phải đậu đúng chỗ cần đậu thì mới giúp nhạc sĩ và ca sĩ thành danh được. Chân tình mà nói thì tôi thấy Khánh Du hát Em Về Tinh Khôi hay hơn Hà Trần hoặc Bằng Kiều. Còn anh?
Tôi ít có thói quen đem đĩa cũ của mình ra nghe nên bài “Em Về Tinh Khôi” Khánh Du hát là một trong hiếm hoi những bài hát mà tôi thích nghe lại. Những bài hát rất cũ bỗng có dịp trở thành bài hát mới, không biết đấy là niềm vui hay nỗi buồn. May mắn là tôi vẫn giữ cho mình một thói quen viết như một cách làm bài tập: viết mỗi ngày, hoàn tất ca khúc rồi cất đấy, ít lâu sau đem ra xem lại, nếu thấy không… vô duyên thì mới giữ lại. Thành thử, tôi không quá buồn khi bài hát của tôi không ai hát, và cũng chẳng quá vui khi chúng được đón nhận. Tôi viết để cảm thấy mình còn có khả năng tư duy âm nhạc, còn sáng tạo được, thế thôi.

• Người ta nói nhạc của anh quá giống nhạc Trịnh Công Sơn và nhất là “Bài Tình Cho Giai Nhân”. Anh có phản đối không?
Nếu nói thế là không hiểu anh Sơn. Anh và tôi viết nhạc trên những cảm thức thời đại và ý thức cá nhân hoàn toàn khác nhau. Tôi có một quãng thời gian làm việc với anh Sơn và thực hiện album cho Trịnh Vĩnh Trinh. Anh Sơn thương mến tôi và tôi thì trọng nể anh. Anh Sơn là một huyền thoại và là người tạo thêm những huyền thoại – riêng điều đó cũng chứng tỏ tôi khác anh: tôi không là huyền thoại.

• Đôi khi tôi cảm thấy, khi nghe nhạc của anh rồi mà xếp anh vào hàng các nhạc sĩ trẻ nó không hợp lý. Anh không già nhưng nhạc của anh thì cũng chẳng trẻ trung cho lắm. Dường như anh đang có một con đường đi khác hẳn với họ?
Việc xếp các nhạc sĩ cùng thời vào cùng một rọ là việc của những nhà làm sử. Nó không có gì đáng bực dọc, hay phản bác. Chỉ cần hiểu đúng lịch sử, những người cùng thời vẫn có những hoạt động, lối đi khác nhau và thành bại chẳng giống nhau. Tôi vẫn viết những bài hát ca ngợi niềm vui, tình yêu thanh sạch, tinh tươm, ca ngợi những nhan sắc của ngày hôm nay, níu kéo những tính thiện của ngày hôm qua.
Tôi không tự xếp mình vào rọ nào cả. Tôi không mấy thích lịch sử, nó dễ gây hiểu nhầm.

• Anh đồng tình hay phản đối ý kiến cho rằng âm nhạc của những người trẻ đang phát triển theo chiều rộng chứ chưa sâu?
Rộng hay sâu tùy thuộc vào hệ quy chiếu nào. Trong một không gian n chiều, ai dám quả quyết rằng góc nhìn của anh ta là đúng nhất? Tôi đứng về phía những người trẻ, những người còn đầy đủ trí tuệ, mơ ước, sức khoẻ để kiến tạo một cái gì đó thực sự tốt đẹp. Trẻ chứ không phải trẻ tuổi, tôi xin nhấn mạnh. Ở góc nhìn của tôi, những người tử tế thì vừa rộng vừa sâu.

• Trong dòng chảy chung của âm nhạc, người ta hy vọng vào những người tạo ra công chúng chứ ít khi ngược lại. Anh nghĩ sao về điều này?

Vai trò cá nhân trong việc tạo ra một dòng chảy mới cho văn hóa là có thật; và là vai trò khó hủy diệt có cố công đến mấy. Vấn đề là, cá nhân tiên phong phải thực sự tài năng, tự tin, bản lĩnh, tỉnh táo (chứ không phải lập dị, lãng mạn viển vông, kém khoa học, háo danh). Cá nhân tài năng sẽ sinh ra những công chúng tài năng của anh ta.

• Vừa viết, vừa hòa âm, biên tập, rồi lại cả viết báo về âm nhạc. Anh có cảm thấy mình đã đẩy những đứa con của mình vào một áp lực của công luận hay không, rằng cha này khen chê người khác thì giỏi mà chưa có người rờ đến ổng?

Tôi chỉ có một quan tâm duy nhất: phải được làm việc. Có công việc rồi, tôi chẳng còn nghĩ gì đến thị phi, chẳng còn sức đâu chạy cút bắt với những lời ra tiếng vào. Tôi phán xét tôi, phán xét những công việc, những tác phẩm của tôi, chắc điều này có ích hơn – ít ra cũng có ích hơn cho tinh thần và quỹ thời gian của tôi.

• Chuyện định hướng thị hiếu là của những người biên tập, theo anh con đường phía trước của thị trường chúng ta sẽ là như thế nào?
Thị trường âm nhạc đang chuyển sang giai đoạn chiến lược hóa: mọi bước đi của những ca sĩ, nhạc sĩ đều phải được quy định trước, với sự giám sát của những người giỏi nghề và giàu kinh nghiệm sống. Không còn những hiện tượng bột phát như thời Mỹ Linh, Quang Linh nữa. Mọi thứ đã khác, và những người trong cuộc – những nhà tổ chức, những công ty lăng xê, những ca sĩ mới… phải hiểu rõ, hiểu thấu điều này. Thêm nữa, tôi lo sợ cho những người làm showbiz mà thỉnh thoảng lại khoe vừa tu nghiệp một chút, vừa ứng dụng công nghệ một tí. Tại sao không học cho xong đã rồi hãy làm?

• Anh là một trong những người đầu tiên dịch lời Anh cho ca khúc Việt Nam. Đây là một khía cạnh của lòng đam mê hay là có một ý tưởng lớn hơn là quốc tế hóa nhạc Việt? Dẫu sao về chuyện chuyển ngữ ca khúc vẫn còn nhiều điều đáng đề cập nhiều?
Khi một ca khúc đã được viết với tư duy Việt Nam, nó đã phải chịu mang màu da, vóc dáng Việt. Chuyển ngữ nó là một việc làm khiên cưỡng và chỉ có ý nghĩa khảo cứu. Tôi làm việc này từ sự ủng hộ của những người bạn nước ngoài muốn hiểu về âm nhạc Việt Nam đương đại, phần nữa cũng muốn thử sức như một trải nghiệm cá nhân. Còn chuyện quốc tế hóa nhạc Việt thì phải đi từ gốc: nhạc sĩ phải suy nghĩ viết trực tiếp bằng tiếng Anh.

• Nếu cần nói một điều gì đó như tâm sự của thế hệ những nhạc sĩ như anh thì anh nói gì?
Tôi tin rằng âm nhạc Việt sẽ phát triển nhanh và càng ngày khoảng cách giữa chúng ta với thế giới bên ngoài càng thu ngắn lại. Tôi nhìn ra được cái Ngày Mai tuyệt đẹp của nhạc Việt, với những ca sĩ đẹp đẽ, có văn hóa, tỉnh táo và cẩn trọng. Tôi vẫn đang giúp một số giọng hát mới khởi đầu sự nghiệp của họ, giúp cho đến khi nào họ bay vững bằng đôi cánh của chính họ – hoặc có thể, cho đến khi họ tỏ ra là đã biết bay.

• Thôi nhé, một chút về mình nhỉ?
Tôi là dân Sài Gòn chính gốc, thuần khiết, dù bố mẹ tôi gốc Bắc: bố quê Hà Nam, mẹ quê Thái Bình. Tôi sinh ra, học hành và trưởng thành, yêu thương và khổ đau ở chính mảnh đất Sài Gòn và tôi tự hào về điều đó. Tôi đã từng có cảm giác nhớ đến rợn người cái thành phố ồn ào phương Nam này mỗi khi rời xa nó.
Bố tôi mất sớm, mẹ tôi là nhà giáo tiểu học, một mình nuôi con. Tôi được học nhạc khi lên năm, học nhạc lý, ký xướng âm và mandolin. Mười tuổi tôi học guitar cổ điển và may mắn được đào tạo tử tế về môn này. Những tưởng đấy là cách hướng nghiệp tiên tiến, nào ngờ mẹ tôi nghĩ khác: học nhạc cho vui thôi, còn thì phải học văn hóa cho giỏi. Tôi đứng nhất suốt mười hai năm phổ thông, học giỏi Toán toàn thành phố và nghĩ rằng mình sẽ trở thành một kỹ sư hóa. Nhưng số phận đã đẩy tôi chệch sang hướng khác.
Xong phổ thông, tôi đi làm thợ, vừa làm kiếm cơm vừa tham gia những phong trào văn nghệ không chuyên của ngành nọ ngành kia, không hiểu sao chứ thời ấy tôi cực kỳ chán ghét nghề nhạc. Năm 1985, tôi thi vào Cao đẳng Sư phạm ngành Nhạc và đỗ thủ khoa. Cũng chỉ là những đẩy đưa của duyên phận. Bạn biết đấy, khi vừa lớn tôi không còn giữ cho mình ý chí hướng nghiệp nữa từ sau một số bi kịch cuộc sống mà tôi phải nếm trải.
Tôi được giữ lại trường giảng dạy môn guitar và ở đó suốt mười năm (1990-2000).
Tôi quan tâm đến các diễn biến của phong trào âm nhạc đại chúng Việt Nam ngay từ khi học cấp ba, dĩ nhiên đó là mối quan tâm của kẻ tò mò, hơn là một ý thức nghiêm túc. Tôi thường xuyên xem ca nhạc tụ điểm, yêu thích các nhạc sĩ biểu diễn như Lý Được, Thanh Sơn, Huỳnh Hiệp… và thuộc lòng các bài phối của Bảo Chấn, Thanh Tùng. Ba năm ở Cao đẳng, tôi sưu tầm và hát qua tất cả những tập nhạc Trịnh Công Sơn. Tôi nghe rock Mỹ, soul Anh, nhạc cổ điển, nhạc jazz và đã lấy rất nhiều những chất liệu ấy để soạn giáo trình hòa âm nhạc đương đại cho các sinh viên của tôi khi trước.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s